VKSBL - 397

Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: ”Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, yêu cầu đó”.  Như vậy, đương sự là nguyên đơn nói chung, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập phải có nghĩa vụ chứng minh và Tòa án chỉ thụ lý giải quyết trong phạm vi yêu cầu đó.

Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phước Long tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn S, hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông S và bà Trần Thị T; Buộc bà T giao cho ông S diện tích đất 5.575,2m2, buộc ông S trả cho bà T 08 chỉ vàng 24k; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 212 tờ bản đồ số 02 do ông Trần Văn C và bà Nguyễn Mỹ X đứng tên của diện tích đất nêu trên.

Trong vụ án này, ông S và bà T đều thống nhất xác định phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ tặng cho ông S, vì ông S và bà T là anh em ruột. Tuy nhiên, ông S khởi kiện xác định năm 1992 ông cầm cố cho bà T với giá 08 chỉ vàng 24k, còn phía bà T thì không thừa nhận việc cầm cố mà cho rằng ông S đã chuyển nhượng cho bà; Đồng thời, bà cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 212 tờ bản đồ số 02 do ông C và bà X đứng tên là cấp từ việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà vào năm 1992. Ngoài lời trình bày của ông S và bà T thì không có giấy tờ nào khác để chứng minh. Riêng đối với ông C và bà X trình bày không có giao dịch gì đối với diện tích đất tranh chấp này và cũng không biết vì sao có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về phía cơ quan chức năng là Phòng Tài nguyên và Môi trường xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C và bà X là sai đối tượng.

Bản án tuyên xử như trên hiện đang có hai quan điểm nhận thức khác nhau. Quan điểm thứ nhất cho rằng án sơ thẩm tuyên xử như vậy là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật, bởi lẽ, ông S là người khởi kiện đã đưa ra được căn cứ chứng minh về nguồn gốc đất tranh chấp là cha mẹ cho và được bà T thừa nhận. Ông S xác định là cầm cố còn bà T xác định là chuyển nhượng, trong trường hợp này thì bà T phải có nghĩa vụ chứng minh về việc chuyển nhượng nhưng bà T không có chứng cứ nào chứng minh ngoài lời nói. Quan điểm thứ hai cho rằng nghĩa vụ chứng minh là phải do ông S vì ông là người khởi kiện; Đồng thời không đồng tình với bản án sơ thẩm về việc tuyên xử hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 212 từ bản đồ 02 vì không có ai yêu cầu hủy, là vượt quá vi phạm khởi kiện nên án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S và tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông C và bà X đứng tên là chưa phù hợp, chưa đúng các quy định của pháp luật.

Quan điểm của người viết bài đồng ý với quan điểm thứ nhất, bởi lẽ cả hai quan điểm đều xác định thống nhất với việc quy định về trách nhiệm chứng minh và thẩm quyền giải quyết đối với vụ án. Trong vụ án, ông S là người khởi kiện nên phải có nghĩa vụ chứng minh và ông S đưa ra bằng chứng về nguồn gốc đất tranh chấp là do cha mẹ ông cho, điều này đã được bà T thừa nhận. Như vậy, bà T cho rằng đã chuyển nhượng từ ông S thì trách nhiệm chứng minh việc có chuyển nhượng hay không phải do bà T và bà T không chứng minh được có nhận chuyển nhượng nên phải chấp nhận yêu cầu của ông S, nên việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông C và bà X đứng tên để ông S thực hiện quyền đi kê khai đăng ký lại là hoàn toàn phù hợp, không vượt quá yêu cầu khởi kiện của ông S.

Thực trạng việc tranh chấp quyền sử dụng đất hiện nay diễn ra còn rất phức tạp, các dạng tranh chấp chủ yếu vẫn là tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho, cầm cố, cho thuê xảy ra từ những năm trước khi Luật đất đai năm 2013. Qua một thời gian dài diện tích tranh chấp đã biến động do những người sử dụng ở từng thời điểm đã làm thay đổi như cải tạo chuyển mục đích sử dụng; xây dựng công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm…và chuyển giao qua nhiều người sử dụng, đo đó ở thời điểm xảy ra tranh chấp giá trị sử dụng cũng thay đổi. Đặc biệt là đối với những diện tích đất được thay đổi theo quy hoạch chỉnh trang đô thị, điều chỉnh địa giới hành chính, nông thôn mới từ đất sử dụng là nông nghiệp hoặc vườn tạp đã trở thành đất ở có điều kiện kinh doanh thuận lợi đưa giá trị sử dụng lên gấp hàng chục lần so với thời điểm giao dịch. Trong khi đó, người dân do nhận thức pháp luật còn hạn chế nên khi tham gia giao dịch đối với các hợp đồng nêu trên bằng sự tín nhiệm, tôn trọng lẫn nhau, không tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Các giao dịch chuyển nhượng, cầm cố, cho thuê chủ yếu bằng giấy tay giữa hai bên, một  người bán, một người mua không có các thành viên liên quan đến quyền sử dụng đất, hợp đồng này cũng không qua công chứng, chứng thực thậm chí chỉ giao dịch bằng miệng không có văn bản giấy tờ gì kèm theo (dạng này phổ biến trong giao dịch tặng cho) nên khi xảy ra tranh chấp rất khó khăn, bất cập cho việc giải quyết xử lý của các cơ quan chức năng. Cần phải có giải pháp hữu hiệu, ngoài việc cử cán bộ có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai thì công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đến người dân, đặc biệt là vấn đề giao dịch dân sự khi tham gia các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất. Vụ án trên cũng phản ánh một thực trạng tranh chấp đang diễn ra phổ biến tại địa phương cần phải có sự áp dụng pháp luật một cách thống nhất để góp phần giải quyết tốt đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất./.

 

 

Phạm Văn Thân

Bản tin gần đây
Đại hội công đoàn cơ sở Viện KSND tỉnh Bạc Liêu nhiệm kỳ 2017-2022415
Đảng ủy Viện KSND tỉnh Bạc Liêu với công tác phát triển đảng viên1,253
Đảng ủy Viện KSND tỉnh tổ chức hội nghị đảng viên 6 tháng đầu năm 20161,128
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu thực hiện tốt công tác giúp đỡ hộ nghèo năm 20161,170
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2018 và đón nhận huận chương lao động hạng nhì113
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tổ chức giải bóng đá mini chào mừng kỷ niệm 57 năm thành lập Ngành KSND558
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu chức Hội nghị trực tuyến sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 20171,078
Ngành Kiểm sát Bạc Liêu - 20 năm xây dựng và phát triển458
“Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn - Bất cập từ thực tiễn xét xử”62
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự qua thực hiện quyền thu thập tài liệu, chứng cứ445
Viện kiểm sát kháng nghị không buộc bà " H" mẹ liệt sĩ phải nộp 28.751.000 tiền án phí1,026
Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất qua bốn lần vẫn chưa có hồi kết1,066
Kiểm tra công tác kiểm sát năm 2018 tại Viện KSND huyện Vĩnh Lợi174
Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi: Trực tiếp kiểm sát nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Lợi1,150
Viện KSND huyện Hồng Dân với các hoạt động kỷ niệm 56 năm ngày thành lập ngành1,319
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu duy trì thực hiện tốt việc họp báo tuần1,233
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu - tổ chức Hội nghị trực tuyến chuyên đề: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự”.248
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án sơ thẩm hành chính388
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án hành chính1,059
Vụ giết người xảy ra tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu1,133
Sơ kết 02 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh363
Đảng bộ Viện KSND tỉnh Bạc Liêu quán triệt Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 06 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Bạc Liêu về Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh1,128
Viện kiểm sát Nhân dân Tỉnh Bạc Liêu tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động học tập làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh550