VKSBL - 1,209

Trước Tòa các đương sự họ là những anh em ruột thịt với nhau, nhưng đều chung một ý chí bảo vệ yêu cầu của mình không có sự tự nguyện hay tự thỏa thuận nào, vậy nên ở lần xét xử thứ 4 này Tòa vẫn phải tuyên án. Sau tuyên án các đương sự đã gây sự với nhau tại tòa trong khi quan điểm của những người tiến hành tố tụng cũng vẫn còn những tồn tại trái ngược nhau cần phải có sự thống nhất về việc áp dụng pháp luật. Tại khoản 1 Điều 6 BLTTDS qui định “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp…”. Theo đó Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ đó để xem xét quyết định bản án.

Vụ án xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm nên bản án đã có hiệu lực pháp luật phải thi hành. Tuy nhiên vẫn còn có những quan điểm, nhận thức về việc áp dụng pháp luật chưa được thống nhất đặc biệt là việc đánh giá chứng cứ theo qui định của BLTTDS năm 2015; việc không xem xét lại các tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án có hiệu lực pháp luật, cụ thể là Bản án phúc thẩm hành chính số 09/2014/HC-PT ngày 30/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh về việc khiếu kiện quyết định hành chính của Chủ tịch ủy ban nhân dân trong trường hợp giải quyết khiếu nại, trong khi đương sự đã thu thập giao nộp, cung cấp theo đúng qui định ở vụ kiện dân sự này. Như vậy sự khác biệt giữa vụ án dân sự với vụ án hành chính trong cùng một vụ kiện là một sự kiện pháp lý đương nhiên vì trách nhiệm cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là thuộc về đương sự trong vụ án; mặt khác Tòa án có thẩm quyền tuyên xử Hủy quyết định cá biệt của người có thẩm quyền, hoặc cơ quan có thẩm quyền trong đó có việc cấp phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khoản 1 , Điều 34 BLTTDS.

 Ngày 23.9.2016, Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm với kết quả như sau:

 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị H đối với ông Huỳnh Thanh V và bà Huỳnh Thị Th về việc đòi lại quyền sử dụng đất là 675,50m2.

 Buộc ông Huỳnh Thanh V và bà Huỳnh Thị Th phải có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Thị H diện tích đất 675,50m2 đất tọa lạc tại ấp Láng, thị trấn H, huyện H, Có tứ cạnh cụ thể…

Ngày 22/8/2017 Tòa án nhân dân tỉnh mở phiên tòa xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm tuyên xử giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện H.

Xét về nguồn gốc đất tại hồ sơ vụ án thể hiện vào năm 1989 ông V mua đất của ông Lý H với diện tích 17 công tầm cấy đất tọa lạc tại ấp Láng, thị trấn H, khi mua có làm giấy giao lúa là 310 giạ, cùng năm đó thì ông V bán lại cho bà H 05 công tầm cấy, khi bán chỉ nói miệng không làm giấy tờ gì. Đến năm 1994 thì ông V và bà H cùng được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 Căn cứ để chứng minh nguồn gốc đất của ông Huỳnh Thanh V mua của ông Lý H là thông qua những người làm chứng như: Ông Lý Â, ông Tô Hữu Th, ông Trương Văn T, ông Tô Hữu T, ông Lý Văn T, ông Huỳnh Văn M đều xác định ông Huỳnh Thanh V mua 17 công đất của ông Lý H. Việc xác nhận này phù hợp với chứng cứ khác là giấy nhận lúa giữa ông V và ông Lý H, phù hợp với giấy mục kê quyền sử dụng đất tên ông Huỳnh Thanh V. Quá trình xác lập quyền sử dụng đất là ông Huỳnh Thanh V đã được Ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994 và Ủy ban nhân dân huyện cấp đổi lại năm 2002.

Những lời khai trên Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh lại hoàn toàn không thay đổi so với tài liệu hồ sơ vụ án  phù hợp với chứng cứ mà ông V cung cấp, trong đó có diện tích 02 công đất vườn tạp phù hợp với việc các cây trồng mà ông V đã chặt để cải tạo làm ruộng mà phía bà H yêu cầu bồi thường là diện tích vườn tạp nằm trong tổng số 17 công mà ông V đã chuyển nhượng từ ông Lý H đã đăng ký được Uỷ ban nhân dân huyện cấp CNQSDĐ. Trong khi đó, toàn bộ diện tích đất được cấp cho bà H kê khai hoàn toàn không có diện tích đất nào là vườn tạp mà chỉ là đất ruộng trồng lúa.

Theo giấy CNQSDĐ của ông V tại thửa 39 tờ bản đồ số 4 diện tích 2.096m2 có 300m đất ở và 1.796m2 đất trồng cây lâu năm; Phần diện tích đất này ông V đã chuyển nhượng cho bà Lâm Thị Kiều Tr 1002m2 đã được Uỷ ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 122 tờ bản đồ số 04 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 91/HĐ-CN ngày 26/04/2011.

Đối với bà Huỳnh Thị H cho rằng nguồn gốc đất của bà là cũng chuyển nhượng từ ông Lý H, rồi ông V kê khai quyền sử dụng đất chồng lấn lên quyền  sử dụng đất của bà H. Như vậy bà Huỳnh Thị H không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà chuyển nhượng đất từ ông Lý H. Mặt khác, ông Lý Â là con ruột của ông Lý H khẳng định cha của ông chỉ có chuyển nhượng duy nhất cho ông Huỳnh Thanh V 17 công đất, ngoài ra không chuyển nhượng cho bất kỳ người nào khác cho đến khi ông Lý H chết.

Theo giấy chứng nhận của bà Huỳnh Thị H có diện tích 8.300m2 hoàn toàn không có đất vườn mà toàn bộ là đất trồng lúa ở thửa 0178 (diện tích 5.660m2) và thửa (diện tích 2.640m2), kể cả khi kê khai cấp đổi cũng hoàn toàn không có diện tích đất nào là đất vườn, nhưng nay lại thu hồi diện tích đất vườn tạp buộc ông V phải bồi thường cây trồng là chưa có căn cứ. Cấp sơ thẩm dựa vào bản án hành chính để công nhận diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà H là chưa phù hợp với thực tế khách quan của sự việc.

 Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện tại Công văn số 69/CV-UB ngày 22/12/2014 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn H xác định: Khi lập hồ sơ cấp lại quyền sử dụng đất cho bà bà Huỳnh Thị H thì bà H không có mặt để thực hiện các thủ tục theo quy định mà người trực tiếp kê khai làm hồ sơ là em ruột của bà H là ông Huỳnh Thanh M thực hiện. Đồng thời cán bộ địa chính thị trấn cũng không tiến hành đo đạc và xác minh thực tế mà chỉ ghi nhận theo sự trình bày của ông M về nguồn gốc đất của bà H là của ông Huỳnh Kim D (cha ruột bà H), biên bản đo đạc cán bộ địa chính cũng không trực tiếp đi xác minh mà giao lại cho ông M tự ý mang đi các hộ ký là không đúng quy định và Ủy ban nhân dân thị trấn H cũng đã có hình thức kiểm điểm cán bộ trong việc lập hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị H tại Công văn trả lời đơn tố cáo của ông Huỳnh Thanh V số 69/CV-UB ngày 22/12/2014

Như vậy trên diện tích đất tranh chấp tại thửa số 39 có đến 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc Ông V chuyển nhượng từ ông Lý H sau đó được cấp giấy là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thứ nhất; ông V tách một phần đất chuyển nhượng cho bà Tr là giấy chứng nhận thứ hai; đồng thời tại thời điểm này bà H cùng kê khai và được cấp giấy chứng nhận là giấy chứng nhận thứ ba. Tuy nhiên như đã đề cập trên khi cấp đổi thì bà H tiếp tục kê khai phần diện tích đất này và việc cấp đổi do có sai phạm thiếu sót của cơ quan chức năng cụ thể là cán bộ phòng Tài nguyên Môi trường huyện đã có hình thức xử lý; còn ông V tuy không kê khai diện tích đất tranh chấp này nhưng vẫn sử dụng liên tục cho đến nay. Cả hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều dựa vào bản án hành chính để tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là chưa đủ căn cứ khách quan, chưa đúng với bản chất của sự việc. Mặt khác khi thụ lý vụ án dân sự Tòa án không đưa Uỷ ban nhân dân huyện H và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất như ông Huỳnh Thanh S là người được bà H giao cho quản lý đất, bà Lâm Thị Kiều Tr là người chuyển nhượng đất của ông V vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

 Từ các nội dung trên Tòa án nhân dân huyện H đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H với căn cứ là không xem xét lại các tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án có hiệu lực pháp luật, cụ thể là Bản án phúc thẩm hành chính số 09/2014/HC-PT ngày 30/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh về việc khiếu kiện quyết định hành chính của Chủ tịch ủy ban nhân dân trong trường hợp giải quyết khiếu nại là chưa phù hợp, chưa đủ căn cứ bởi cả hai bản án sơ thẩm, phúc thẩm hành chính đều có sai lầm nghiêm trọng trong việc đánh giá chứng cứ dẫn đến quyết định bản án không chính xác, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân huyện H để giải quyết lại vụ án. Hội đồng xét xử tuyên xử  giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm. Việc tuyên xử như vậy theo người viết bài là chưa đảm bảo khách quan, không đúng với nội dung của vụ án và khoản 1 Điều 6 BLTTDS gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự trong vụ án và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

 Phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. giữa bà Huỳnh Thị H với ông Huỳnh Thanh V cũng là phiên xét xử lần thứ tư các đương sự cả nguyên đơn và bị đơn họ đều là anh em ruột với nhau nhưng qua 4 lần xét xử họ đều không tự thỏa thuận được với nhau; bản án phúc thẩm lần này theo qui định của pháp luật là đã có hiệu lực phải thi hành. Tuy nhiên vẫn chưa có hồi kết vì vẫn còn tồn tại quan điểm nhận thức áp dụng pháp luật khác nhau giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng (Viện kiểm sát và Tòa án), mặt khác các đương sự vẫn còn gay gắt với nhau họ đã xô xát với nhau ngay giữa công đường sau khi Tòa tuyên án cần phải xem xét theo trình tự thủ tục giám đốc thẩm theo qui định của pháp luật.

 

 

Phạm Văn Thân

Bản tin gần đây
Đại hội công đoàn cơ sở Viện KSND tỉnh Bạc Liêu nhiệm kỳ 2017-2022576
Đảng ủy Viện KSND tỉnh Bạc Liêu với công tác phát triển đảng viên1,412
Đảng ủy Viện KSND tỉnh tổ chức hội nghị đảng viên 6 tháng đầu năm 20161,255
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu thực hiện tốt công tác giúp đỡ hộ nghèo năm 20161,309
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm 2018 và đón nhận huận chương lao động hạng nhì292
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tổ chức giải bóng đá mini chào mừng kỷ niệm 57 năm thành lập Ngành KSND735
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu chức Hội nghị trực tuyến sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 20171,214
Ngành Kiểm sát Bạc Liêu - 20 năm xây dựng và phát triển623
Một số kinh nghiệm và giải pháp cơ bản rút ra từ công tác Thanh tra nhằm hạn chế án hình sự trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng187
“Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn - Bất cập từ thực tiễn xét xử”334
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự qua thực hiện quyền thu thập tài liệu, chứng cứ640
Viện kiểm sát kháng nghị không buộc bà " H" mẹ liệt sĩ phải nộp 28.751.000 tiền án phí1,167
Kiểm tra công tác kiểm sát năm 2018 tại Viện KSND huyện Vĩnh Lợi314
Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi: Trực tiếp kiểm sát nhà tạm giữ Công an huyện Vĩnh Lợi1,308
Viện KSND huyện Hồng Dân với các hoạt động kỷ niệm 56 năm ngày thành lập ngành1,493
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu duy trì thực hiện tốt việc họp báo tuần1,388
Trực tiếp kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bạc Liêu175
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu - tổ chức Hội nghị trực tuyến chuyên đề: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự”.425
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án sơ thẩm hành chính573
Viện KSND tỉnh Bạc Liêu tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm vụ án hành chính1,224
Sơ kết 02 năm thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh539
Đảng bộ Viện KSND tỉnh Bạc Liêu quán triệt Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 06 của Ban Thường vụ tỉnh ủy Bạc Liêu về Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh1,283
Viện kiểm sát Nhân dân Tỉnh Bạc Liêu tổ chức thực hiện tốt cuộc vận động học tập làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh699